Chương II - Quy tắc giao thông đường bộ
Điều 9.Quy tắc chung
1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo
chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ
thống báo hiệu đường bộ.
2. Xe ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và
người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô phải thắt dây an toàn.
Điều 10.Hệ thống báo hiệu đường bộ
1. Hệ thống báo hiệu đường bộ gồm hiệu lệnh của người
điều khiển giao thông; tín hiệu đèn giao thông,biển báo hiệu, vạch kẻ đường,
cọc tiêu hoặc tường bảo vệ, rào chắn.
2. Hiệu lệnh của người điều khiển giao thông quy định
như sau:
a) Tay giơ thẳng đứng
để báo hiệu cho người tham gia giao thông ở các hướng dừng lại;
b) Hai tay hoặc một tay dang ngang để báo hiệu cho
người tham gia giao thông ở phía trước và ở phía sau người điều khiển giao
thông phải dừng lại; người tham gia giao thông ở phía bên phải và bên trái của
người điều khiển giao thông được đi;
c) Tay phải giơ về phía trước để báo hiệu cho người
tham gia giao thông ở phía sau và bên phải người điều khiển giao thông phải dừng
lại; người tham gia giao thông ở phía trước người điều khiển giao thông được rẽ
phải; người tham gia giao thông ở phía bên trái người điểu khiển giao thông
được đi tất cả các hướng; người đi bộ qua đường phải đi sau lưng người điều
khiển giao thông.
3. Tín hiệu đèn giao thông có ba mầu, quy định như sau:
a) Tín hiệu xanh là được đi;
b) Tín hiệu đỏ là cấm đi;
c) Tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng, trừ
trường hợp đã đi quá vạch dừng thì được đi tiếp; trong trường hợp tín hiệu vàng
nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho
người đi bộ qua đường.
4. Biển báo hiệu đường bộ gồm năm nhóm, quy định như
sau:
a) Biển báo cấm để biểu thị các điều cấm;
b) Biển báo nguy hiểm để cảnh báo các tình huống nguy
hiểm có thể xảy ra;
c) Biển hiệu lệnh để báo các hiệu lệnh phải thi hành;
d) Biển chỉ dẫn để chỉ dẫn hướng đi hoặc các điều cần
biết;
đ) Biển phụ để thuyết minh bổ sung các loại biển báo
cấm, biển báo nguy hiểm, biển hiệu lệnh và biển chỉ dẫn.
5. Vạch kẻ đường là vạch chỉ sự phân chia làn đường,
vị trí hoặc hướng đi, vị trí dừng lại.
6. Cọc tiêu hoặc tường bảo vệ được đặt ở mép các đoạn
đường nguy hiểm để hướng dẫn cho người tham gia giao thông biết phạm vi an toàn
của nền đường và hướng đi của đường.
7. Rào chắn được đặt ở nơi đường bị thắt hẹp, đầu cầu,
đầu cống, đầu đoạn đường cấm, đường cụt không cho xe, người qua lại hoặc đặt ở
những nơi cần điều khiển, kiểm soát sự đi lại.
8. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể về
báo hiệu đường bộ.
Điều 11.Chấp hành báo hiệu đường bộ
1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh
và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ.
2. Khi có người điều khiển giao thông thì người tham
gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông.
3. Tại nơi có biển báo hiệu cố định lại có báo hiệu
tạm thời thì người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh của báo hiệu
tạm thời.
4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ,
người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho
người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.
Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ,
người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của
người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi
bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn.
Điều 12.Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe
1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải
tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an
toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu
giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.
2. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ
xe và việc đặt biển báo tốc độ; tổ chức thực hiện đặt biển báo tốc độ trên các
tuyến quốc lộ.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện
việc đặt biển báo tốc độ trên các tuyến đường do địa phương quản lý.
Điều 13.Sử dụng làn đường
1. Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều
được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải
cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép;
khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.
2. Trên đường một chiều có vạch kẻ phân làn đường, xe
thô sơ phải đi trên làn đường bên phải trong cùng, xe cơ giới, xe máy chuyên
dùng đi trên làn đường bên trái.
3. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ di chuyển
với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải.
Điều 14.Vượt xe
1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi;
trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt
bằng đèn.
2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại
vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe
chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
3. Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người
điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần
đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với
xe xin vượt.
4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các
trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:
a) Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ
trái;
b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;
c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà
không thể vượt bên trái được.
5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp
sau đây:
a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2
Điều này;
b) Trên cầu hẹp có một làn xe;
c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;
d) Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức
với đường sắt;
đ) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an
toàn cho việc vượt;
e) Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi
làm nhiệm vụ.
Điều 15.Chuyển hướng xe
1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện
phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.
2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển
xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp
đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều
và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm
cho người và phương tiện khác.
3. Trong khu dân cư, người lái xe, người điều khiển xe
máy chuyên dùng chỉ được quay đầu xe ở nơi đường giao nhau và nơi có biển báo cho
phép quay đầu xe.
4. Không được quay đầu xe ở phần đường dành cho người
đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, trong hầm đường bộ,
đường cao tốc, tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt,đường hẹp,
đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất.
Điều 16.Lùi xe
1. Khi lùi xe, người điều khiển phải quan sát phía
sau, có tín hiệu cần thiết và chỉ khi nào thấy không nguy hiểm mới được lùi.
2. Không được lùi xe ở khu vực cấm dừng, trên phần
đường dành cho người đi bộ qua đường, nơi đường bộ giao nhau, đường bộ giao
nhau cùng mức với đường sắt, nơi tầm nhìn bị che khuất, trong hầm đường bộ, đường
cao tốc.
Điều 17.Tránh xe đi ngược chiều
1. Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy
riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ
và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình.
2. Các trường hợp nhường đường khi tránh nhau quy định
như sau:
a) Nơi đường hẹp chỉ đủ cho một xe chạy và có chỗ
tránh xe thì xe nào ở gần chỗ tránh hơn phải vào vị trí tránh, nhường đường cho
xe kia đi;
b) Xe xuống dốc phải nhường đường cho xe đang lên dốc;
c) Xe nào có chướng ngại vật phía trước phải nhường
đường cho xe không có chướng ngại vật đi trước.
3. Xe cơ giới đi ngược chiều gặp nhau không được dùng
đèn chiếu xa.
Điều 18. Dừng xe, đỗ xe trên đường bộ
1. Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương
tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống
phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác.
2. Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao
thông không giới hạn thời gian.
3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe
trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:
a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác
biết;
b) Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất
ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường
thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;
c) Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe
hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó;
d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực
hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt
ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển
phương tiện khác biết;
đ) Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe
khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn;
e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi
vị trí lái;
g) Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải được chèn bánh.
4. Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ
xe tại các vị trí sau đây:
a) Bên trái đường một chiều;
b) Trên các đoạn đường cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị
che khuất;
c) Trên cầu, gầm cầu vượt;
d) Song song với một xe khác đang dừng, đỗ;
đ) Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;
e) Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 5 mét tính từ
mép đường giao nhau;
g) Nơi dừng của xe buýt;
h) Trước cổng và trong phạm vi 5 mét hai bên cổng trụ
sở cơ quan, tổ chức;
i) Tại nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe;
k) Trong phạm vi an toàn của đường sắt;
l) Che khuất biển báo hiệu đường bộ.
Điều 19.Dừng xe, đỗ xe trên đường phố
Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên
đường phố phải tuân theo quy định tại Điều 18 của Luật này và các quy định sau
đây:
1. Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía
bên phải theo chiều đi của mình;bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường,
hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp
đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường
tối thiểu 20 mét.
2. Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện,trên
miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành
riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng
đường, hè phố trái quy định.
Điều 20. Xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông
đường bộ
1. Hàng hóa xếp trên xe phải gọn gàng, chằng buộc chắc
chắn, không để rơi vãi dọc đường, không kéo lê hàng hóa trên mặt đường và không
cản trở việc điều khiển xe.
2. Khi xếp hàng hóa vượt phía trước và phía sau xe thì
ban ngày phải có cờ báo hiệu màu đỏ, ban đêm hoặc khi trời tối phải có đèn đỏ
báo hiệu.
3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể
việc xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ.
Điều 21. Trường hợp chở người trên xe ô tô chở hàng
1. Chỉ được chở người trên xe ô tô chở hàng trong các
trường hợp sau đây:
a) Chở người đi làm nhiệm vụ phòng, chống thiên tai
hoặc thực hiện nhiệm vụ khẩn cấp; chở cán bộ, chiến sĩ của lực lượng vũ trang
nhân dân đi làm nhiệm vụ; chở người bị nạn đi cấp cứu;
b) Chở công nhân duy tu, bảo dưỡng đường bộ; chở người
đi thực hành lái xe trên xe tập lái; chở người diễu hành theo đoàn;
c) Giải tỏa người ra khỏi khu vực nguy hiểm hoặc trong
trường hợp khẩn cấp khác theo quy định của pháp luật.
2. Xe ô tô chở người trong các trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều này phải có thùng cố định, bảo đảm an toàn khi tham gia giao
thông.
Điều 22.Quyền ưu tiên của một số loại xe
1. Những xe sau đây được quyền ưu tiên đi trước xe
khác khi qua đường giao nhau từ bất kỳ hướng nào tới theo thứ tự:
a) Xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ;
b) Xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp,
đoàn xe có xe cảnh sát dẫn đường;
c) Xe cứu thương đang thực hiện nhiệm vụ cấp cứu;
d) Xe hộ đê, xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên
tai, dịch bệnh hoặc xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định
của pháp luật;
đ) Đoàn xe tang.
2. Xe quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều
này khi đi làm nhiệm vụ phải có tín hiệu còi, cờ, đèn theo quy định; không bị
hạn chế tốc độ; được phép đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi
được, kể cả khi có tín hiệu đèn đỏ và chỉ phải tuân theo chỉ dẫn của người điều
khiển giao thông.
Chính phủ quy định cụ thể tín hiệu của xe được quyền
ưu tiên.
3. Khi có tín hiệu của xe được quyền ưu tiên, người
tham gia giao thông phải nhanh chóng giảm tốc độ, tránh hoặc dừng lại sát lề đường
bên phải để nhường đường. Không được gây cản trở xe được quyền ưu tiên.
Điều 23.Qua phà, qua cầu
phao
1. Khi đến bến phà, cầu
phao, các xe phải xếp hàng trật tự, đúng nơi quy định, không làm cản trở giao
thông.
2. Khi xuống phà, đang ở
trên phà và khi lên bến, mọi người phải xuống xe, trừ người điều khiển xe cơ
giới, xe máy chuyên dùng, người bệnh, người già yếu và người khuyết tật.
3. Xe cơ giới, xe máy
chuyên dùng phải xuống phà trước, xe thô sơ, người đi bộ xuống phà sau; khi lên
bến, người đi bộ lên trước, các phương tiện giao thông lên sau theo hướng dẫn
của người điều khiển giao thông.
4. Thứ tự ưu tiên qua
phà, qua cầu phao quy định như sau:
a) Các xe được quyền ưu
tiên quy định tại khoản 1 Điều 22 của Luật này;
b) Xe chở thư báo;
c) Xe chở thực phẩm tươi sống;
d) Xe chở khách công cộng.
Trong trường hợp các xe
cùng loại ưu tiên đến bến phà, cầu phao thì xe nào đến trước được qua trước.
Điều 24.Nhường đường tại
nơi đường giao nhau
Khi đến gần đường giao
nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo
quy định sau đây:
1. Tại nơi đường giao
nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi đến từ
bên phải;
2. Tại nơi đường giao
nhau có báo hiệu đi theo vòngxuyến, phải nhường đường cho xe đi bên trái;
3. Tại nơi đường giao
nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường
chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho
xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới.
Điều 25.Đi trên đoạn
đường bộ giao nhau cùng mức vớiđường sắt, cầu đường bộ đi chung với đường sắt
1. Trên đoạn đường bộ
giao nhau cùng mức với đường sắt, cầu đường bộ đi chung với đường sắt,phương
tiện giao thông đường sắt được quyền ưu tiên đi trước.
2. Tại nơi đường bộ giao
nhau cùng mức với đường sắt có đèn tín hiệu, rào chắn và chuông báo hiệu, khi
đèn tín hiệu mầu đỏ đã bật sáng, có tiếng chuông báo hiệu, rào chắn đang dịch
chuyển hoặc đã đóng, người tham gia giao thông đường bộ phải dừng lại phía phần
đường của mình và cách rào chắn một khoảng cách an toàn; khi đèn tín hiệu đã
tắt, rào chắn mở hết, tiếng chuông báo hiệu ngừng mới được đi qua.
3. Tại nơi đường bộ giao
nhau cùng mức với đường sắt chỉ có đèn tín hiệu hoặc chuông báo hiệu, khi đèn
tín hiệu mầu đỏ đã bật sáng hoặc có tiếng chuông báo hiệu, người tham gia giao
thông đường bộ phải dừng ngay lại và giữ khoảng cách tối thiểu 5 mét tính từ
ray gần nhất; khi đèn tín hiệu đã tắt hoặc tiếng chuông báo hiệu ngừng mới được
đi qua.
4. Tại nơi đường bộ giao
nhau cùng mức với đường sắt không có đèn tín hiệu, rào chắn và chuông báo hiệu,
người tham gia giao thông đường bộ phải quan sát cả hai phía, khi thấy chắc
chắn không có phương tiện đường sắt đang đi tới mới được đi qua, nếu thấy có
phương tiện đường sắt đang đi tới thì phải dừng lại và giữ khoảng cách tối
thiểu 5 mét tính từ ray gần nhất và chỉ khi phương tiện đường sắt đã đi qua mới
được đi.
5. Khi phương tiện tham
gia giao thông đường bộ bị hư hỏng tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với
đường sắt hoặc trong phạm vi an toàn đường sắt thì người điều khiển phương tiện
phải bằng mọi cách nhanh nhất đặt báo hiệu trên đường sắt cách tối thiểu 500
mét về hai phía để báo cho người điều khiển phương tiện đường sắt và tìm cách
báo cho người quản lý đường sắt, nhà ga nơi gần nhất, đồng thời phải bằng mọi
biện pháp nhanh chóng đưa phương tiện ra khỏi phạm vi an toàn đường sắt.
6. Những người có mặt tại
nơi phương tiện tham gia giao thông đường bộ bị hư hỏng trên đoạn đường bộ giao
nhau cùng mức với đường sắt có trách nhiệm giúp đỡ người điều khiển phương tiện
đưa phương tiện ra khỏi phạm vi an toàn đường sắt.
Điều 26.Giao thông trên
đường cao tốc
1. Người lái xe, người
điều khiển xe máy chuyên dùngtrên đường cao tốc ngoài việc tuân thủ các quy tắc
giao thông quy định tại Luật này còn phải thực hiện cácquy định sau đây:
a) Khi vào đường cao tốc
phải có tín hiệu xin vào và phải nhường đường cho xe đang chạy trên đường, khi
thấy an toàn mới cho xe nhập vào dòng xe ở làn đường sát mép ngoài, nếu có làn
đường tăng tốc thì phải cho xe chạy trên làn đường đó trước khi vào làn đường
của đường cao tốc;
b) Khi ra khỏi đường cao
tốc phải thực hiện chuyển dần sang làn đường phía bên phải, nếu có làn đường
giảm tốc thì phải cho xe chạy trên làn đường đó trước khi rời khỏi đường cao
tốc;
c) Không được cho xe chạy
ở làn dừng xe khẩn cấp và phần lề đường;
d) Không được cho xe chạy
quá tốc độ tối đa và dưới tốc độ tối thiểu ghi trên biển báo hiệu, sơn kẻ trên
mặt đường.
2. Người lái xe, người
điều khiển xe máy chuyên dùngphải cho xe chạy cách nhau một khoảng cách an
toànghi trên biển báo hiệu.
3. Chỉ được dừng xe, đỗ
xe ở nơi quy định; trường hợp buộc phải dừng xe, đỗ xe không đúng nơi quy định
thì người lái xe phải đưa xe ra khỏi phần đường xe chạy, nếu không thể được thì
phải báo hiệu để người lái xe khác biết.
4. Người đi bộ, xe thô
sơ, xe gắn máy, xe mô tô và máy kéo; xe máy chuyên dùng có tốc độ thiết kế nhỏ
hơn 70 km/h không được đi vào đường cao tốc, trừ người, phương tiện, thiết bị
phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc.
Điều 27. Giao thông trong
hầm đường bộ
Người điều khiển phương
tiện trong hầm đường bộ ngoài việc tuân thủ các quy tắc giao thông quy định tại
Luật này còn phải thực hiện các quy định sau đây:
1. Xe cơ giới, xe máy
chuyên dùng phải bật đèn; xe thô sơ phải bậtđèn hoặc có vật phát sáng báo hiệu;
2. Chỉ được dừng xe, đỗ
xe ở nơi quy định.
Điều 28.Tải trọng và khổ
giới hạn của đường bộ
1. Người điều khiển
phương tiện phải tuân thủ các quy định về tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ
và chịu sự kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền.
2. Trường hợp đặc biệt,
xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của đường bộ, xe bánh xích gây hư hại mặt
đường có thể được lưu hành trên đường nhưng phải được cơ quan quản lý đường bộ
có thẩm quyền cấp giấy phép và phải thực hiện các biện pháp bắt buộc để bảo vệ đường
bộ, bảo đảm an toàn giao thông.
3. Bộ trưởng Bộ Giao
thông vận tải quy định về tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ và công bố về tải
trọng, khổ giới hạn của quốc lộ; quy định việc cấp giấy phép lưu hành cho xe
quá tải trọng, quá khổ giới hạn của đường bộ, xe bánh xích gây hư hại mặt đường.
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh công bố về tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ do địa phương quản
lý.
Điều 29.Xe kéo xe và xe
kéo rơ moóc
1. Một xe ô tô chỉ được
kéo theo một xe ô tô hoặc xe máy chuyên dùng khác khi xe này không tự chạy được
và phải bảo đảm các quy định sau đây:
a) Xe được kéo phải có
người điều khiển và hệ thống lái của xe đó phải còn hiệu lực;
b) Việc nối xe kéo với xe
được kéo phải bảo đảm chắc chắn, an toàn; trường hợp hệ thống hãm của xe được
kéo không còn hiệu lực thì xe kéo nhau phải nối bằng thanh nối cứng;
c) Phía trước của xe kéo
và phía sau của xe được kéo phải có biển báo hiệu.
2. Xe kéo rơ moóc phải có
tổng trọng lượng lớn hơn tổng trọng lượng của rơ moóc hoặc phải có hệ thống hãm
có hiệu lực cho rơ moóc.
3. Không được thực hiện
các hành vi sau đây:
a) Xe kéo rơ moóc, xe kéo
sơ mi rơ moóc kéo thêm rơ moóc hoặc xe khác;
b) Chở người trên xe được
kéo;
c) Kéo theo xe thô sơ, xe
gắn máy, xe mô tô.
Điều 30.Người điều khiển,
người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy
1. Người điều khiển xe mô
tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừ những trường hợp sau thì
được chở tối đa hai người:
a) Chở người bệnh đi cấp
cứu;
b) Áp giải người có hành
vi vi phạm pháp luật;
c) Trẻ em dưới 14 tuổi.
2. Người điều khiển,
người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy phải đội mũ bảo
hiểm có cài quai đúng quy cách.
3. Người điều khiển xe mô
tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy không được thực hiện các hành vi sau
đây:
a) Đi xe dàn hàng ngang;
b) Đi xe vào phần đường
dành cho người đi bộ và phương tiện khác;
c) Sử dụng ô, điện thoại
di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính;
d) Sử dụng xe để kéo, đẩy
xe khác, vật khác, mang, vác và chở vật cồng kềnh;
đ) Buông cả hai tay hoặc
đi xe bằng một bánh đối với xe hai bánh, bằng hai bánh đối với xe ba bánh;
e) Hành vi khác gây mất
trật tự, an toàn giao thông.
4. Người ngồi trên xe mô
tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy khi tham gia giao thông không được thực
hiện các hành vi sau đây:
a) Mang, vác vật cồng
kềnh;
b) Sử dụng ô;
c) Bám, kéo hoặc đẩy các
phương tiện khác;
d) Đứng trên yên, giá đèo
hàng hoặc ngồi trên tay lái;
đ) Hành vi khác gây mất
trật tự, an toàn giao thông.
Điều 31. Người điều
khiển, người ngồi trên xe đạp, người điều khiển xe thô sơ khác
1. Người điều khiển xe
đạp chỉ được chở một người, trừ trường hợp chở thêm một trẻ em dưới 7 tuổi thì
được chở tối đa hai người.
Người điều khiển xe đạp
phải thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 30 của Luật này; người ngồi trên xe
đạp khi tham gia giao thông phải thực hiện quy định tại khoản 4 Điều 30 của
Luật này.
2. Người điều khiển,
người ngồi trên xe đạp máy phải đội mũ bảo hiểm có cài quai đúng quy cách.
3. Người điều khiển xe
thô sơ khác phải cho xe đi hàng một, nơi có phần đường dành cho xe thô sơ thì
phải đi đúng phần đường quy định; khi đi ban đêm phải có báo hiệu ở phía trước
và phía sau xe. Người điều khiển xe súc vật kéo phải có biện pháp bảo đảm vệ
sinh trên đường.
4. Hàng hóa xếp trên xe
thô sơ phải bảo đảm an toàn, không gây cản trở giao thông và che khuất tầm nhìn
của người điều khiển.
Điều 32.Người đi bộ
1. Người đi bộ phải đi
trên hè phố, lề đường; trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi
bộ phải đi sát mép đường.
2. Người đi bộ chỉ được
qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường hoặc có cầu vượt, hầm
dành cho người đi bộ và phải tuân thủ tín hiệu chỉ dẫn.
3. Trường hợp không có
đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì
người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn
và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường.
4. Người đi bộ không được
vượt qua dải phân cách, không đu bám vào phương tiện giao thông đang chạy; khi
mang vác vật cồng kềnh phải bảo đảm an toàn và không gây trở ngại cho người và
phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
5. Trẻ em dưới 7 tuổi khi
đi qua đường đô thị, đường thường xuyên có xe cơ giới qua lại phải có người lớn
dắt; mọi người có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường.
Điều 33.Người khuyết tật,
người già yếu tham gia giao thông
1. Người khuyết tật sử
dụng xe lăn không có động cơ được đi trên hè phố và nơi có vạch kẻ đường dành
cho người đi bộ.
2. Người khiếm thị khi đi
trên đường bộ phải có người dắt hoặc có công cụ để báo hiệu cho người khác nhận
biết đó là người khiếm thị.
3. Mọi người có trách
nhiệm giúp đỡ người khuyết tật, người già yếu khi đi qua đường.
Điều 34.Người dẫn dắt súc
vật đi trên đường bộ
1. Người dẫn dắt súc vật
đi trên đường bộ phải cho súc vật đi sát mép đường và bảo đảm vệ sinh trên
đường; trường hợp cần cho súc vật đi ngang qua đường thì phải quan sát và chỉ
được đi qua đường khi có đủ điều kiện an toàn.
2. Không được dẫn dắt súc
vật đi vào phần đường dành cho xe cơ giới.
Điều 35.Các hoạt động
khác trên đường bộ
1. Tổ chức hoạt động văn
hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội trên đường bộ thực hiện theo quy định sau đây:
a) Cơ quan, tổ chức có
nhu cầu sử dụng đường bộ để tiến hành hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành,
lễ hội phải được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền thống nhất bằng văn bản
về phương án bảo đảm giao thông trước khi xin phép tổ chức các hoạt động trên
theo quy định của pháp luật;
b) Trường hợp cần hạn chế
giao thông hoặc cấm đường thì cơ quan quản lý đường bộ phải ra thông báo phương
án phân luồng giao thông; cơ quan, tổ chức có nhu cầu sử dụng đường bộ quy định
tại điểm a khoản 1 Điều này phải thực hiện việc đăng tải thông báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng và thực hiện các biện pháp bảo đảm trật tự, an
toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ;
c) Ủy ban nhân dân nơi tổ
chức hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội có trách nhiệm chỉ đạo cơ
quan chức năng của địa phương tổ chức việc phân luồng, bảo đảm giao thông tại
khu vực diễn ra hoạt động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội.
2. Không được thực hiện
các hành vi sau đây:
a) Họp chợ, mua, bán hàng
hóa trên đường bộ;
b) Tụ tập đông người trái
phép trên đường bộ;
c) Thả rông súc vật trên
đường bộ;
d) Phơi thóc, lúa, rơm
rạ, nông sản hoặc để vật khác trên đường bộ;
đ) Đặt biển quảng cáo
trên đất của đường bộ;
e) Lắp đặt biển hiệu,
biển quảng cáo hoặc thiết bị khác làm giảm sự chú ý, gây nhầm lẫn nội dung biển
báo hiệu hoặc gây cản trở người tham gia giao thông;
g) Che khuất biển báo hiệu,
đèn tín hiệu giao thông;
h) Sử dụng bàn trượt,
pa-tanh, các thiết bị tương tự trên phần đường xe chạy;
i) Hành vi khác gây cản
trở giao thông.
Điều 36.Sử dụng đường phố
và các hoạt động khác trên đường phố
1. Lòng đường và hè phố
chỉ được sử dụng cho mục đích giao thông.
2. Các hoạt động khác
trên đường phố phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Luật này,
trường hợp đặc biệt, việc sử dụng tạm thời một phần lòng đường, hè phố vào mục
đích khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không được làm ảnh hưởng
đến trật tự, an toàn giao thông.
3. Không được thực hiện
các hành vi sau đây:
a) Các hành vi quy định
tại khoản 2 Điều 35 của Luật này;
b) Đổ rác hoặc phế thải
không đúng nơi quy định;
c) Xây, đặt bục, bệ trái phép trên đường.
Điều 37.Tổ chức giao thông và điều khiển giao thông
1. Tổ chức giao thông gồm các nội dung sau đây:
a) Phân làn, phân luồng, phân tuyến và quy định thời
gian đi lại cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ;
b) Quy định các đoạn đường cấm đi, đường đi một chiều,
nơi cấm dừng, cấm đỗ, cấm quay đầu xe; lắp đặt báo hiệu đường bộ;
c) Thông báo khi có sự thay đổi về việc phân luồng,
phân tuyến, thời gian đi lại tạm thời hoặc lâu dài; thực hiện các biện pháp ứng
cứu khi có sự cố xảy ra và các biện pháp khác về đi lại trên đường bộ để bảo đảm
giao thông thông suốt, an toàn.
2. Trách nhiệm tổ chức giao thông quy định như sau:
a) Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm tổ
chức giao thông trên hệ thống quốc lộ;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm
tổ chức giao thông trên các hệ thống đường bộ thuộc phạm vi quản lý.
3. Trách nhiệm điều khiển giao thông của cảnh sát giao
thông như sau:
a) Chỉ huy, điều khiển giao thông trên đường; hướng
dẫn, bắt buộc người tham gia giao thông chấp hành quy tắc giao thông;
b) Khi có tình huống gây ách tắc giao thông hoặc có
yêu cầu cần thiết khác về bảo đảm an ninh, trật tự được tạm thời đình chỉ đi
lại ở một số đoạn đường nhất định, phân lại luồng, phân lại tuyến và nơi tạm dừng
xe, đỗ xe.
Điều 38.Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi
xảy ra tai nạn giao thông.
1. Người điều khiển phương tiệnvà những người liên
quan trực tiếp đến vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây:
a) Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường; cấp
cứu người bị nạn và phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;
b) Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan
công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải
đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứuhoặc vì lý do bị đe dọa đến
tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất;
c) Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn cho cơ
quan có thẩm quyền.
2. Những người có mặt tại nơi xảy ra vụ tai nạn có
trách nhiệm sau đây:
a) Bảo vệ hiện trường;
b) Giúp đỡ, cứu chữa kịp thời người bị nạn;
c) Báo tin ngay cho cơ quan công an, y tế hoặc Ủy ban
nhân dân nơi gần nhất;
d) Bảo vệ tài sản của người bị nạn;
đ) Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn theo yêu
cầu của cơ quan có thẩm quyền.
3. Người điều khiển phương tiện khác khi đi qua nơi
xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm chở người bị nạn đi cấp cứu. Các xe được quyền
ưu tiên, xe chở người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự không
bắt buộc thực hiện quy định tại khoản này.
4. Cơ quan công an khi nhận được tin về vụ tai nạn có
trách nhiệm cử người tới ngay hiện trường để điều tra vụ tai nạn, phối hợp với
cơ quan quản lý đường bộ và Ủy ban nhân dân địa phương bảo đảm giao thông thông
suốt, an toàn.
5. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra tai nạn có trách nhiệm
kịp thời thông báo cho cơ quan công an, y tế đến để xử lý, giải quyết vụ tai
nạn; tổ chức cứu chữa, giúp đỡ người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản
của người bị nạn; trường hợp có người chết mà không rõ tung tích, không có thân
nhân hoặc thân nhân không có khả năng chôn cất thì sau khi cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đã hoàn tất các công việc theo quy định của pháp luật và đồng ý cho
chôn cất, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức chôn cất.
Trường hợp vụ tai nạn vượt quá khả năng giải quyết, Uỷ
ban nhân dân cấp xã phải kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp trên.
6. Bộ Công an có trách nhiệm thống kê, tổng hợp, xây
dựng cơ sở dữ liệu thông tin về tai nạn giao thông đường bộ, cung cấp cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét